"Đánh ghen" phạt hành chính hay hình sự? - Cập nhật : 04/08/2016

“ĐÁNH GHEN” PHẠT HÀNH CHÍNH HAY HÌNH SỰ?

       Nhiều người nghĩ đánh người khác gây thương tích nghiêm trọng mới là vi phạm pháp luật. Nhưng thực ra, hành vi đánh ghen, lột quần áo người khác bêu rếu ngoài đường đã có thể bị xử lý hình sự.
       Thời gian qua xảy ra nhiều vụ việc các phụ nữ trẻ tham gia tổ chức đánh ghen, lột quần áo người khác giữa nơi công cộng rồi quay phim, tung lên mạng xã hội… Theo luật sư, hành vi này hoàn toàn có thể bị xử lý hình sự, dù nạn nhân có bị đánh gây thương tích hay không.
      Theo Điều 5 Nghị định 167 năm 2013 của Chính phủ thì mức xử phạt hành chính đối với hành vi trên là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
       Dù không hề gây thương tích cho nạn nhân nhưng hành vi lột quần áo của nạn nhân ở nơi công cộng, có nhiều người qua lại, chứng kiến thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999 về tội làm nhục người khác.
      Theo đó, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
      Còn theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự 2015 thì người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.     
     Đối với hành vi đánh ghen gây thương tích thì : Căn cứ vào kết quả giám định, yêu cầu khởi tố của người bị hại, nếu hành vi đánh ghen gây thương tích rơi vào một trong các trường quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì có thể bị xử lý hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
     Cụ thể là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%; hoặc dưới 11% nhưng Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ…
      Khung hình phạt thấp nhất của tội danh này là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khung hình phạt cao nhất là bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, nếu phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

_HH_

 

GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN
Cảm ơn qúy khách đã tin dùng dịch vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp nhận, xử lý thông tin và trả lời quý khách sớm nhất.


Gửi câu hỏi Nhập lại

  • Trách nhiệm pháp lý của phương pháp sinh con “thuận tự nhiên”
  • Trách nhiệm pháp lý của phương pháp sinh con “thuận tự nhiên”

    Những ngày gần đây dư luận đang xôn xao về vấn đề sinh con “thuận tự nhiên”. Các chuyên gia trong ngành đều khẳng định việc sinh con “thuận tự nhiên” là rất nguy hiểm cho tính mạng của cả mẹ lẫn con.Vậy đứng dưới góc độ pháp lý, trường hợp người mẹ sinh con “thuận tự nhiên” và dẫn đến hậu quả đứa trẻ tử vong thì người mẹ có phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi này không?
  • Đánh ghen thế nào để không phạm tội?
  • Đánh ghen thế nào để không phạm tội?

    "Đánh ghen" không phải là khái niệm được pháp luật quy định chỉ là tên gọi do người dân tự đặt ra để chỉ hành vi bằng lời nói hoặc hành động của một người đối với người mà họ cho rằng có quan hệ tình cảm bất chính với vợ/chồng của mình... hoặc các đối tượng có liên quan khác.
  • Hành vi "cố tình gây thương nhớ" có bị truy cứu TNHS?
  • Hành vi "cố tình gây thương nhớ" có bị truy cứu TNHS?

    Ngày nay, hành vi "cố tình gây thương nhớ" không còn nằm trong phạm trù tình cảm mà đã trở thành công cụ lừa đảo hiệu quả của các đối tượng xấu thông qua các trang mạng xã hội. Vậy hành vi này bị pháp luật xử lý như thế nào?
  • Khi nào thi hành bản án tử hình?
  • Khi nào thi hành bản án tử hình?

    Tử hình là chế tài xử lý nặng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hình phạt này áp dụng đối với một số tội danh nhất định, có mức độ nguy hiểm cao đối với xã hội.
  • Các trường hợp được xóa án tích
  • Các trường hợp được xóa án tích

    Theo quy định tại các điều 63, 64, 65, 66, 67 BLHS 1999 và Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP của hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự 1999 Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp Giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xóa án tích trong những trường hợp sau:
Hỗ trợ trực tuyến