Bộ luật dân sự năm 2015: Di chúc chung của vợ chồng liệu có bị cấm? - Cập nhật : 15/08/2017

BLDS 2015: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LIỆU CÓ BỊ CẤM

Trong hai Bộ luật dân sự (BLDS) đầu tiên của Việt Nam năm 1995 và 2005 đều ghi nhận di chúc chung của vợ chồng.

Cụ thể trong BLDS 2005 tại Điều 663 quy định: "Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung". Theo đó, vợ chồng có thể lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc chung để định đọat tài sản chung. Những người không phải vợ chồng hợp pháp thì không thể lập di chúc chung.

Vấn đề sửa đổi, bổ sung di chúc chung của vợ chồng được quy định tại Điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.
2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Như vậy, nếu một người đã chết thì người còn lại chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc đối với phần tài sản của mình.
Di chúc chung vợ chồng chỉ có hiệu lực tại thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ và chồng cùng chết.
Đây là một chế định hay của BLDS, và cũng là một nét văn hóa đẹp của người Việt xưa nay.

Tuy nhiên, đến BLDS 2015, quy định về di chúc chung vợ chồng đã “bốc hơi”. Bộ luật không hề có bất kì quy định nào liên quan đến di chúc chung của vợ chồng. Liệu điều này có đồng nghĩa với việc di chúc chung của vợ chồng bị cấm?
Thực tế, không có quy định nào của BLDS 2015 biểu thị một cách minh thị rằng không cho phép vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Theo quy định tại Điều 624 BLDS 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Luật nói di chúc là “ý chí của cá nhân” chứ không nói di chúc là “ý chí của một cá nhân”, trong khi đó vợ, chồng đều là cá nhân nên hoàn toàn có thể hiểu vợ chồng được lập di chúc chung. Nói cách khác, quy định trên cho biết chỉ cá nhân mới được lập di chúc (chủ thể khác cá nhân như pháp nhân không được lập di chúc) chứ không nói là di chúc chỉ có thể do một cá nhân lập, tức không đủ cơ sở để cho rằng, quy định trên cấm di chúc chung của vợ chồng khi họ định đoạt tài sản chung của họ.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định:
Thứ nhất, không có quy định về di chúc chung của vợ chồng với những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005;
Thứ hai, không tồn tại một quy định có giá trị pháp lý cấm di chúc chung của vợ chồng khi họ định đoạt tài sản chung của họ. Điều đó có nghĩa là di chúc chung của vợ chồng (để định đoạt tài sản chung) chưa có điều luật cụ thể quy định và nó vẫn có thể tồn tại một cách hợp pháp bởi “Công dân có quyền làm những điều mà pháp luật không cấm”.

N.A

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

Công ty Luật Hải Nguyễn và Cộng sự

Hotline: 0973 509 636 (Ls. Hải ) & 0989422798 (Ls. An)

Email: lamchuphapluat@gmail.com

 

GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN
Cảm ơn qúy khách đã tin dùng dịch vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp nhận, xử lý thông tin và trả lời quý khách sớm nhất.


Gửi câu hỏi Nhập lại

  • Trách nhiệm rủi ro trong Hợp đồng gia công
  • Trách nhiệm rủi ro trong Hợp đồng gia công

    Hợp đồng gia công khá phổ biến trên thực tế. Điểm riêng biệt trong hợp đồng gia công là một bên chuyển giao nguyên vật liệu của mình cho bên kia tiến hành công việc tạo ra sản phẩm từ những nguyên vật liệu ban đầu đó. Một số đặc điểm và quan trọng nhất là trách nhiệm chịu rủi ro trong hợp đồng gia công cụ thể như dưới đây.
  • Tài sản đã bán rồi có chuộc lại được không?
  • Tài sản đã bán rồi có chuộc lại được không?

    Khi thực hiện một giao dịch dân sự, cụ thể là hợp đồng mua bán, có những lúc chủ sở hữu bán xong tài sản nhưng sau đó, vì một vài lý do họ lại quyết định muốn chuộc lại. Để giải quyết trường hợp này, Bộ Luật dân sự 2015 đã có quy định về trường hợp chuộc lại tài sản đã bán.
  • Trường hợp đủ điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự
  • Trường hợp đủ điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự

    Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân dành cho Tổ quốc. Hằng năm, Nhà nước đều tổ chức cho công dân đến độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp đủ điều kiện đăng ký tham gia, cũng có những trường hợp không đủ điều kiện đăng ký.
  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

    Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm dân sự đặc biệt. Trách nhiệm này phát sinh không phải do lỗi của con người mà tự những hoạt động của vật làm cho nó có tiềm ẩn gây ra thiệt hại. Bộ Luật dân sự 2015 đã có những quy định về loại trách nhiệm này tại Điều 601.
  • Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
  • Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

    Từ xa xưa đến nay, súc vật là sản phẩm chăn nuôi của con người. Nó cung cấp cho con người về sức kéo (trâu, bò...), thịt,... Vốn bản năng của súc vật là tính hoang dã, mặc dù đã được con người thuần hóa và nuôi dưỡng nhưng có nhiều trường hợp, súc vật có thể gây ra những thiệt hại ảnh hưởng đến kinh tế và sức khỏe của con người. Bộ luật dân sự đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của việc cần phải...
Hỗ trợ trực tuyến