Hòa giải Tranh chấp đất đai không thành

Câu hỏi:
Bạn 'Lê Văn Lực - Email: llttcb@gmail.com' hỏi:

Tôi có phần đất được cấp giấy chứng nhận là tiếp giáp lộ đá, tôi sử dụng ổn định hơn 15 năm qua, tự nhiên cách đây hơn 1 tháng chủ sử dụng đất đối diện diện bên kia lộ qua tranh chấp với tôi, rào hành rào lưới B40 ngang đất tôi không cho tôi đi ra, tôi khiếu nại đến UBND xã, cán bộ địa chính xác định phần đất được người tranh chấp với tôi xác định một phần nằm trong giấy chứng nhận đã cấp cho tôi, một phần đất là mương lộ có kích thước chiều sâu từ mép nhựa vô đến phần đất cấp cho tôi là 1,26m. Vụ việc được UBND xã hòa giải nhưng không thành, nếu tôi khiếu nại tiếp thì tòa án hay UBND huyện giải quyết cho tôi. Xin được tư vấn của Luật sư. Tôi chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Luật Hải Nguyễn kính chào quý khách !

Là một công ty tư vấn chuyên cung cấp các dịch vụ toàn diện , với đội ngũ luật sư và chuyên viên tư vấn được đào tạo chuyên nghiệp, Luật Hải Nguyễn và Cộng sự có đủ năng lực để cung cấp cho Quý khách hàng dịch vụ tư vấn và hỗ trợ nêu trên.
Sau đây, Luật Hải Nguyễn xin gửi đến Quý khách hàng đề xuất dịch vụ nội dung như sau:

I. Tư vấn pháp lý
1. Cơ sở pháp lý :
- Luật Đất đai năm 2013
2. Nội dung tư vấn
Theo Điều 202 Luật đất đai năm 2013 về Hòa giải tranh chấp đất đai :
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Theo Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định về  Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Căn cứ theo quy định tại điều này thì cần xét xem bạn đã ký vào biên bản hòa giải chưa và kết thúc thời gian hòa giải (45 ngày) hay chưa. Nếu đã kí vào Biên bản hòa giải không thành và đã kết thúc thời gian hòa giải, thì cần xét xem những giấy tờ mà gia đình bạn có gồm những gì thì mới xác định được thẩm quyền giải quyết của đâu. Trong trường hợp này, bạn có Giấy chứng nhận là tiếp giáp lộ đá quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013,  thì bạn có thể làm đơn khởi kiện gửi lên tòa đều yêu cầu tòa giải quyết, và khi gửi lên tòa thì mỗi bên trong vụ án sẽ là đương sự..
Trên đây là những tư vấn của công ty Luật Hải Nguyễn dành cho câu hỏi của bạn.
II. Liên hệ tư vấn trực tiếp
Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:
Công ty Luật Hải Nguyễn và Cộng sự
Địa chỉ: Phòng 12A- Chung cư Viện Chiến Lược Bộ Công An, Đường Nguyễn Chánh, Cầu Giấy, Hà Nội.
Hotline: 0973 509 636 (Ls. Hải ) & 0989422798 (Ls. An)
Email: lamchuphapluat@gmail.com

Trân trọng.

 

Xem thêm mục hỏi đáp

  • Tranh chấp di sản thừa kế
  • Tranh chấp di sản thừa kế

    Xin chào luật sư. Hiện nay tôi có vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai muốn được luật sư tư vấn. Nội dung vụ việc nhà tôi như sau:

  • Đầu tư nước ngoài
  • Đầu tư nước ngoài

    Xin chào luật sư, tôi muốn được hướng dẫn thủ tục hồ sơ pháp lý để chuyển tiền ra nước ngoài nhắm mua cổ phần công ty sau đó làm chủ sở hữu công ty.