Khai nhận di sản thừa kế đối với người thừa kế chưa thành niên - Cập nhật : 18/12/2017

KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI THỪA KẾ CHƯA THÀNH NIÊN

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật dân sự 2015

II. NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Người chưa thành niên

Theo Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Người chưa thành niên:

"1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý."

Theo quy định trên thì người chưa thành niên không thể tự mình xác lập, thực hiện việc phân chia di sản thừa kế với những đồng thừa kế khác, mà phải thực hiện thông qua người đại diện là bố hoặc mẹ của cháu. Như vậy, trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, bố hoặc mẹ sẽ tham gia đồng thời với hai tư cách: một là chính mình với tư cách là người được hưởng di sản thừa kế, hai là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên.

2. Khai nhận di sản thừa kế đối với con chưa thành niên sẽ do cha hoặc mẹ là người đại diện

Theo Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Phạm vi đại diện:

"1. Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:

a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Điều lệ của pháp nhân;

c) Nội dung ủy quyền;

d) Quy định khác của pháp luật.

2. Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình."

Như vậy, bố hoặc mẹ có thể đại diện cho con chưa thành niên nhận phần di sản thừa kế của con. Tuy nhiên theo khoản 3 của Điều 141 nên trên thì Một cá nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Tức là bố hoặc mẹ không thể đại diện cho con chưa thành niên để tặng cho phần di sản của các con cho chính mình được (người đại diện xác lập giao dịch với chính mình).

Người đại diện là cha hoặc mẹ khi đại diện nhận phần thừa kế của con có thể xác lập hoặc thực hiện mọi giao dịch dân sự, ví dụ như chuyển nhượng phần di sản thừa kế là bất động sản của  người chưa thành niên cho một bên thứ ba, nếu điều này nằm trong phạm vi đại diện là phục vụ cho lợi ích của người được đại diện là con chưa thành niên theo khoản 2 Điều 141 là: Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

III. LIÊN HỆ TƯ VẤN TRỰC TIẾP

Công ty Luật Hải Nguyễn với đội ngũ Luật sư uy tín và giàu kinh nghiệm, chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý về CÔNG CHỨNG , ĐẤT ĐAI, DOANH NGHIỆP, SỞ HỮU TRÍ TUỆ,…

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

Công ty Luật Hải Nguyễn và Cộng sự

Hotline: 0973 509 636 (Ls. Hải ) & 0989422798 (Ls. An)

Email: lamchuphapluat@gmail.com

-T.M-

 

GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN
Cảm ơn qúy khách đã tin dùng dịch vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp nhận, xử lý thông tin và trả lời quý khách sớm nhất.


Gửi câu hỏi Nhập lại

  • Di sản thừa kế
  • Di sản thừa kế

    “Di sản” hay còn có thể gọi dưới cái tên “di sản thừa kế” được hiểu là “Tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế”. Di sản thừa kế được thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
  • Người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc
  • Người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc

    Pháp luật hiện nay quy định có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp thừa kế theo di chúc, thì tài sản được chia theo ý nguyện của người để lại di chúc. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người có quan hệ thân thiết với người chết, pháp luật dân sự có quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
  • Người thừa kế thế vị
  • Người thừa kế thế vị

    Pháp luật quy định về thừa kế thế vị nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chắt của người để lại di sản một cách trực tiếp, do đó, quy đinh này là phù hợp với đạo lý và thực tiễn nước ta hiện nay, tránh tình trạng di sản của ông bà làm các cháu lại không được hưởng lại để cho người khác hưởng.
  • Hiểu biết chung về thừa kế theo di chúc
  • Hiểu biết chung về thừa kế theo di chúc

    Từ xa xưa, người Việt Nam thường có quan niệm “cha truyền con nối”, di sản của người chết sẽ để lại toàn bộ cho con trai của mình. Tuy nhiên với xã hội hiện đại như ngày nay thì quan điểm đó không còn đúng nữa. Di sản của người chết sẽ được định đoạn theo ý chí của họ thông qua bản di chúc. Vậy làm thế nào để có một bản di chúc hợp pháp đúng theo quy định của pháp luật thì trong phạm vi bài...
  • Thế nào được coi là di chúc hợp pháp
  • Thế nào được coi là di chúc hợp pháp

    Căn cứ BLDS 2015 : - Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
  • Phân chia di sản theo pháp luật
  • Phân chia di sản theo pháp luật

    Căn cứ Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật "1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
  • Phân chia di sản theo di chúc
  • Phân chia di sản theo di chúc

    1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Hỗ trợ trực tuyến