Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 - Cập nhật : 08/12/2017

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

Hiện nay, tình trạng người chưa thành niên phạm tội đã trở thành vấn đề đang được chú ý và quan tâm của các cơ quan chức năng. Nguyên nhân dẫn đến tình hình phạm tội của người chưa thành niên cũng rất đa dạng, đặc điểm tâm sinh lý của họ đang trong thời gian phát triển, hoàn thiện về thể chất lẫn tinh thần nên nhận thức đúng, sai còn hạn chế, có tâm lý bắt chước, bị lôi kéo, hoặc có trường hợp do hoàn cảnh gia đình có những khó khăn, chưa có sự quan tâm giáo dục đúng mức dẫn đến hành vi phạm tội.

Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có những thay đổi bổ sung liên quan đến trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội, trong đó thu hẹp phạm vi các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo những quy định của Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em đó chính là thực hiện nguyên tắc đảm bảo “những lợi ích tốt nhất cho trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”. Với những định hướng tiến bộ đó, BLHS năm 2015 có những sửa đổi các quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tăng cường áp dụng các chế tài không tước quyền tự do, bổ sung cơ chế tha tù trước thời hạn có điều kiện, thay đổi cách thức tính khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, xóa án tích cho người dưới 18 tuổi phạm tội.

BLHS năm 2015 đã thu hẹp phạm vi tội phạm đối với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định của BLHS năm 2015 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 tội danh được liệt kê tại khoản 2 điều 12 BLHS. Đây chính là những thay đổi mang tính đột phá trong việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Đối với những trường hợp phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng chỉ nên áp dụng các biện pháp xử lý như giáo dục tại xã, phường, thị trấn; hòa giải tại cộng đồng, khiển trách; xử lý hành chính giúp cho các em có điều kiện tiếp tục học tập, rèn luyện.

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

- Bộ luật hình sự năm 2015

II. NỘI DUNG TƯ VẤN

1/ Những thay đổi trong nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

- BLHS năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại khoản 1 điều 91 BLHS “ Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”

- BLHS năm 2015 đã sửa đổi nguyên tắc:“ Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa” theo quy định tại khoản 4 điều 91 BLHS. Nguyên tắc này có nghĩa là việc chọn lựa áp dụng miễn trách nhiệm hình sự và sau đó áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn... phải được lựa chọn trước tiên khi xét thấy các biện pháp giám sát, giáo dục không đảm bảo “ hiệu quả giáo dục phòng ngừa” thì mới áp dụng hình phạt.

- BLHS năm 2015 đã sửa đổi quy định về miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ điều kiện theo điều 29 BLHS thì cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giáo dục – phòng ngừa như “khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn”, trong đó biện pháp khiển trách và hòa giải tại cộng đồng là 2 biện pháp giáo dục – phòng ngừa mới.

Đối với biện pháp áp dụng “ Khiển trách” được quy định tại điều 93 BLHS, đồng thời đã quy định người bị khiển trách phải thực hiện nghĩa vụ : Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Đối với biện pháp áp dụng “ Hòa giải tại cộng đồng” được quy định tại điều 94 BLHS, đồng thời quy định nghĩa vụ đối với người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện “ Xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; thực hiện nghĩa vụ quy định đối với người bị khiển trách”.

2/ Những thay đổi về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

2.1.BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt như phạt tiền và cải tạo không giam giữ.

- Đối với hình phạt chính là phạt tiền được quy định tại khoản 1 điều 35 BLHS áp dụng đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm do BLHS quy định. Phạm vi mở rộng đối với hình phạt chính là hình phạt tiền đó là trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng.

- Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định tại điều 100 BLHS thì người dưới 18 tuổi phạm tội được áp dụng khi :

Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì loại tội phạm mà họ vi phạm là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý.

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì loại tội phạm mà họ vi phạm là tội rất nghiêm trọng.

Hình phạt cải tạo không giam giữ không chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà còn áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

2.2.Những điểm mới về hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội :

-Theo quy định tại khoản 6 điều 91 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 “Khi xử tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời gian thích ứng ngắn nhất”, đồng thời tại khoản 2 điều 38 BLHS năm 2015 cũng quy định “không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do lỗi vô ý và có nơi cư trú rõ ràng” đây là những quy định mới về nguyên tắc xử phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, do đó xác định phạm vi áp hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi đã được thu hẹp.

2.3.Về quyết định hình phạt trong trường hợp “chuẩn bị phạm tội” được quy định mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thấp hơn so với BLHS năm 1999 và được phân hóa theo từng độ tuổi:

Theo quy định tại khoản 2 điều 102 BLHS năm 2015: “ Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1 phần 3 mức hình phạt quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.

Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1 phần 2 mức hình phạt quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng”

2.4.Về quyết định hình phạt trong trường hợp “phạm tội chưa đạt” được quy định mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Theo quy định tại khoản 3 điều 102 BLHS năm 2015:  “ Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá 1 phần 3 mức hình phạt quy định tại điều 100 và 101 của Bộ luật này.

Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá 1 phần 2 mức hình phạt quy định quy định tại điều 99, 100 và 101 của Bộ luật này”

2.5.Về quyết định hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội theo quy định tại khoản 1 điều 103 BLHS năm 2015:

“Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ: mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3 năm.

Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn: mức hình phạt cao nhất được áp dụng không vướt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.”

Ngoài ra tại khoản 2 điều 103 BLHS năm 2015 đã phân hóa mức hình phạt theo từng độ tuổi khi phạm tội :

“a) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.”

2.6.Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng theo quy tại khoản 3 điều 103 BLHS:

“a) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.”

2.7.Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Đây là quy định mới đối với việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điều 104 BLHS năm 2015:

“Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước hoặc sau khi có bản án này, được thực hiện theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật này.

Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật này.”

2.8.Về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Theo quy định tại điều 107 BLHS năm 2015, xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định cụ thể hơn :

“ 1) Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b.Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do lỗi vô ý;

2) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà không thực hiện hành vi phạm tội mới”

2.9.Tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là quy định mới của BLHS năm 2015.

Điều 106 BKHS quy định:

“ 1. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 66 của Bộ luật này có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

a.Phạm tội lần đầu;

b.Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

c.Đã chấp hành xong một phần 3 thời hạn tù.

d.Có nơi cư trú rõ ràng.”

III.LIÊN HỆ TƯ VẤN TRỰC TIẾP

Công ty Luật Hải Nguyễn với đội ngũ Luật sư uy tín và giàu kinh nghiệm, chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý về CÔNG CHỨNG , ĐẤT ĐAI, DOANH NGHIỆP, SỞ HỮU TRÍ TUỆ,…

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

Công ty Luật Hải Nguyễn và Cộng sự

Hotline: 0973 509 636 (Ls. Hải ) & 0989422798 (Ls. An)

Email: lamchuphapluat@gmail.com

-T.M-

 

GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN
Cảm ơn qúy khách đã tin dùng dịch vụ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp nhận, xử lý thông tin và trả lời quý khách sớm nhất.


Gửi câu hỏi Nhập lại

  • Vụ bé Nhật Linh: Giá trị pháp lý của chữ ký đề nghị tử hình nghi phạm
  • Vụ bé Nhật Linh: Giá trị pháp lý của chữ ký đề nghị tử hình nghi phạm

    Nhiều tuần qua, vụ án thương tâm của bé Lê Thị Nhật Linh tiếp tục thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bố mẹ em đang tập hợp chữ ký của cộng đồng cả trong và ngoài nước để đề nghị xét xử nghi phạm Yasumasa Shibuya với khung hình phạt cao nhất là tử hình. Chữ ký có giá trị pháp lý nhất định khi thẩm phán xem xét mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Vậy giá trị pháp lý của chữ ký người dân đề...
  • Những tội bị tuyên án tử hình theo bộ luật hình sự năm 2015
  • Những tội bị tuyên án tử hình theo bộ luật hình sự năm 2015

    Bộ luật hình sự mới đã có nhiều thay đổi về các khung hình phạt. Ở Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, có tổng cộng 24 Điều luật có quy định mức án tử hình dành cho các tội phạm, đến Bộ luật hình sự 2015 giảm xuống chỉ còn 18 Điều.
  • Đi tù vì cưa bom
  • Đi tù vì cưa bom

    Pháp luật Việt Nam có những quy định, chế tài để xử lý nghiêm minh những kẻ có hành vi "cưa bom" và quy định chế tài bù đắp thiệt hại thực tế do những hành vi đó gây ra.
  • Gian lận xăng dầu bị xử lý như thế nào?
  • Gian lận xăng dầu bị xử lý như thế nào?

    Trong thời gian qua, tình trạng bán xăng dầu gian lận có phần yên ắng, tuy nhiên thực tế vẫn xảy ra không ít. Các cây xăng sử dụng mánh khóe, đồng hồ đo sai để bán thiếu xăng cho khách hàng, gây ức chế cho dư luận. Vậy, khi một cây xăng có hành vi kinh doanh gian dối thì cây xăng đó sẽ bị xử lý như thế nào?
  • Con bất hiếu với cha mẹ có thể bị phạt tù
  • Con bất hiếu với cha mẹ có thể bị phạt tù

    Trong xã hội hiện nay, hình ảnh những cụ già đã lớn tuổi phải đi ăn xin, đi bán vé số mưu sinh vì không được con cái chăm lo, hay cảnh những cụ già con cái giàu sang nhưng xem cha mẹ là gánh nặng nên phải vào viện dưỡng lão không còn là xa lạ trong thời buổi hiện nay. Tệ hơn, con cái đánh đập, chửi bới, chì chiết cha mẹ cũng diễn ra hàng ngày. Những người con này đã vi phạm giá trị đạo đức...
  • Trách nhiệm bảo vệ người tố cáo của các cơ quan, tổ chức
  • Trách nhiệm bảo vệ người tố cáo của các cơ quan, tổ chức

    Bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo; khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Bảo vệ người tố cáo thể hiện bản chất của Nhà nước...
Hỗ trợ trực tuyến